Giới thiệu

( Phỏng theo Chuyện dân gian Việt Nam.)

Chuyện kể rằng tại một ngơi cha cổ ở miền Sơn Cước, hôm ấy là ngày Hội, vào mùa xuân, thời tiết trong mát. Khách thập phương dập dìu với muôn sắc áo hòa lẫn màu hoa mẫu đơn tạo nên một bức tranh thanh thóa, nhẹ nhàng. Trong số ấy có một thiếu nữ thân hình mảnh mai, làn da trắng mịn núp dưới chiếc ô lụa hồng đào. Đôi mắt đen mơ màng đã làm cho khuôn mặt trái xoan của nàng trở nên thoát tục. Nàng đắm đuối nhìn những cành hoa Mẫu Đơn, rồi với tay kéo một cành về phía mình để ngửi mùi hương. Không may, cành hoa bị gãy, khách đứng xung quanh xì xào làm cho chú tiểu gác vườn hay được, chuyện rắc rối đem đến cho nàng từ đấy!

Nàng bị chú tiểu giữ vườn đem về tạm giữ ở tăng phòng, và theo lệnh của Sư Phụ, phải đền cành hoa ấy mới được về. Không một đồng trong túi, trời mỗi lúc một xế chiều, sương bắt đầu xuống lạnh, khách cũng thưa dần, chỉ còn một số người chung quanh nhìn vào với đôi mắt tò mò, ái ngại! Nàng lo lắng quá, biết làm sao đây? Vừa lúc ấy có người đàn ông bước vào hỏi:

  • Có việc gì thế này?
  • Chú tiểu coi vườn:
  • Thưa quan huyện, cô nương này đã làm gãy một cành hoa Mẫu Đơn nhưng không có tiền thường!

  Quan huyện này chính là Từ Thức, chàng hỏi:

  • Cơ nương ở đâu ma2 làm gãy hoa nhà Chùa?

Nàng e thẹn cúi đầu:

  • Bẩm quan, nhà nương cách đây khoảng 10 dặm, vì hoa quá đẹp và say mê mùi hương nên đ lỡ tay làm gãy, nương đâu muốn điều đó xảy ra! Mắt nương hoen đỏ. Từ Thức động lòng quay sang chú tiểu:
  • Phải đền bao nhiêu cho cành hoa này? tiền tôi không có, hãy lấy chiếc cừu bào của tôi mà cho nàng về kẻo muộn. Vừa nói Từ Thức vừa bỏ chiếc túi bút nghiên đeo trên vai xuống và cởi áo khoác đưa cho chú tiểu. Chú tiểu cảm ơn rối rít, thiếu nữ lộ vẻ ngại ngụng:
  • Cảm ơn quan lớn, tôi biết làm sao để trả ơn quan?

Từ Thức cười tươi:

  • Chỉ là chuyện nhỏ, xin nương đừng bận tâm.

Nàng cúi đầu chào Từ Thức, rồi quay đi. Thỉnh thoảng, nàng quay lại nhìn chàng với ánh mắt thiết tha như không muốn dứt. Từ Thức sững sờ nhìn theo cho đến khi nàng khuất bóng, chàng mới lững thững ra về.

*       *

*

Huyện của Từ Thức năm ấy gặp cảnh mất mùa, dân tình khốn khổ, sưu cao thuế nặng, quan lại tham ô lộng hành khiến dân tình càng điêu đứng hơn, kỷ cương phép nước không còn nữa. Quan đại thần về kiểm tra địa phương đã quở trách Từ Thức nặng nề nên chàng đã cởi áo từ quan.

Giã từ quan trường, Từ Thức đến dựng một căn nhà tranh dưới chân động Tống Sơn, sống cuộc đời đạm bạc với rau cỏ, thơ và rượu.

Một sáng nọ, Từ Thức đứng giữa vườn hoa trông ra biển Thần Phù, bỗng thấy một đám mây ngũ sắc đã kết thành một đóa sen khổng lồ. Thấy lạ, chàng sai tiểu đồng đi gọi thuyền để ra biển. Đi chừng một canh giờ, bỗng dưng trước mặt hiện ra một quả núi rất lớn mà chàng chưa từng thấy. Chàng lên bờ, nhìn những vách đá sừng sững cao vút hàng nghìn trượng không thể nào leo lên được. Tần ngần một lúc, chàng lấy bút vịnh lên vách đá một bài thơ đường luật (phỏng dịch):

Thiên hương bóng rải khắp ngày xanh

Hoa cỏ cười tươi đón rước mình

Hái thuốc nào đâu sư kẽ suối

Tìm nguồn duy có khách bên ghềnh

Lang thang đất lạ, đàn ba khúc

Nên nỗi thuyền câu rượu một mình

Bến vỗ chàng ngư, tìm thử hỏi

Thôn đào chỉ hộ lối loanh quanh.

Thơ vừa đề xong, vách đá bỗng nứt ra. Trước mặt Từ Thức bây giờ là một cái hang lớn, chàng liều mình vén áo bước vào, cửa hang liền đóng sập lại. Một đêm tối mênh mông. Từ Thức hoảng sợ, định thần một lúc, chàng lần mò tìm được khe đá nhỏ, cứ lần theo vách đá trong khe, đi được một khoảng khá lâu, đến một cái hang rộng, nơi đây có ánh sáng lọt vào từ một đường hầm dẫn tới hang, chàng mừng rỡ vì sắp thoát nạn. Nhưng muốn đi ra đường hầm có ánh sáng ấy phải băng qua một con suối lớn, mà dưới suối nhìn kỹ là những con cá Sấu khổng lồ, nằm ngổn ngang như những thân cây cổ thụ. Cả người chàng lạnh toát lên, sững sờ một lúc, chàng nhận ra con đường thoát hiểm duy nhất là những tảng đá nhô khỏi mặt nước, nối tiếp bắt ngang qua suối. Vén áo, dùng hết sức mình chàng nhảy thật nhanh trên những tảng đá và đã vượt qua hiểm nguy.

Ra khỏi cửa hang, một thung lũng hoang vắng đầy cỏ xanh, gió hiu hiu thổi, chàng nằm dài trên cỏ để nghỉ mệt. Chàng tiếp tục đi về phía có ngọn đồi thấp nhất. Trên đường đi, chàng gặp phải những con rắn, cọp khổng lồ như muốn nuốt sống lấy chàng. Thoát được bao cảnh hiểm nguy, dù kiệt sức, chàng cũng cố gắng leo lên đồi. Lên đến đỉnh, chàng sững sờ vì chung quanh mình tòa là hoa thơm, xa xa về phía trước là những lâu đài, văng vẳng là tiếng đàn ca – Thật hay mơ ! Tiên hay trần?

Từ Thức khơng sao hiểu nổi và không tự trả lời cho mình được !

*      *

*

Một mình trong phòng khách thênh thang, tráng lệ, Từ Thức cố mở mắt thật to để biết được mình mơ hay tỉnh. Chàng bỗng giật mình bởi một tiếng gọi khẽ:

  • Bẩm ngài, tiên mẫu xin mời ngài.

Chàng nhủ thầm: “như vậy đây chính là cõi tiên”.

Chàng đứng dậy, lẽo đẽo theo sau, ấp úng hỏi:

  • Đây là đâu, phòng này làm gì mà lớn quá vậy?
  • Đây là cõi tiên, là chốn Thiên Thai ! phòng này là điện Quỳnh Hư, nơi tiếp khách và cử hành các lễ lớn. Còn bên kia ta sắp đến là gác Dao Quang, nơi ngự của tin mẫu. Bước vào phòng, Từ Thức càng bàng hoàng hơn vì sự tráng lệ và uy nguy của nó. Tin mẫu ngồi trên chiếc ghế sơn son thếp vàng đặt trên bục gỗ cao, lót thảm, hai bên có hai tin nữ đứng hầu, tóc bà bạc trắng tay cầm phất trần, gương mặt hồng ho, thanh thoát, bà cất giọng:
  • Từ Thức phải không?

Tiếng nói tuy nhẹ nhưng thật uy nghi – chàng vội qùy xuống, cúi đầu:

  • Bẩm tin mẫu, con chính là Từ Thức.
  • Đứng dậy đi – con khá lắm. Một thanh niên  giàu lòng thương người lại có đầy nghị lực. Con xứng đáng làm rể của ta, đó là lý do ta gọi con đến đây. Ta cho con biết, nơi đây là chốn Thiên Thai, ta là địa tiên ở Nam Nhạc, là Ngụy Phu nhân. Đây là núi Phù Lai, động tin thứ sáu của ba mươi sáu động bềnh bồng trên biển. Nói xong, bà ra lệnh một tin nữ đứng hầu đi vào trong. Một lát sau, từ rèm cửa, hai nàng tiên bước ra. Từ Thức giật mình, chàng đứng lịm đi một lúc rồi chợt tỉnh, miệng thì thầm: “ thì ra là nàng! ” – Tin mẫu cất giọng:
  • Đây là con gái ta, nàng tên Giáng Hương. Con ta gặp nạn ở chùa, nhờ Sinh cứu giúp. Nay ta muốn kết duyên cho hai con để đền đáp công ơn ấy.

Từ Thức quỳ xuống, cúi đầu:

  • Bẩm tiên mẫu, việc làm của con hôm ấy không đáng gì để tin mẫu bận tâm. Hôm nay con lạc đến Thiên Thai, tiên mẫu thương tình tác hợp duyên nợ hai con, ơn ấy như trời cao biển rộng, con không thể nào đền đáp, con xin hứa sẽ là một người chồng tốt đối với Giáng Hương để khỏi phụ lòng tiên mẫu.

*       *

*

Hôm sau, lễ cưới Từ Thức và Giáng Hương được cử hành trọng thể. Cung điện nguy nga rực rỡ ánh đèn, tiên nữ với muôn sắc áo như một vườn hoa rực rỡ. Khách mời từ các động tin khác về đi bằng nhiều phương tiện khác nhau: có vị cưỡi rồng, có vị đi kiệu ngọc, có vị cưỡi xe gió…, cảnh tiệc cung đình ở Thiên Thai khác hẳn cõi trần.

*       *

*

Cuộc sống hạnh phúc và tình yêu của hai người khơng thể tả được. Thời gian cứ thế trôi đi không biết bao lâu… Nhưng rồi, cuộc sống thần tin ấy cũng không làm cho Từ Thức quên được cái cơ cực của trần gian, nơi quê nhà với bao kỷ niệm. Sống trong cung điện, lầu son lại nhớ đến tp lều tranh mộc mạc. Ăn sơn hào hải vị cũng nhớ đến rau muống luộc, cà pháo chấm mắm tôm, đậu hũ rán chấm tương, bánh đa, bánh đúc … Sống trong tràn đầy hạnh phúc lại nhớ thương đến dân lành đang chịu sự áp bức của cường hào ác bá. Chính vì lý do đó, mà nhiều khi chng hay than vắn, thở dài, đêm đêm nằm mộng!

      Thấy sự thay đổi của chồng, Giáng Hương gạn hỏi:

  • Thiếp đã làm gì phật lòng khiến chàng không vui?
  • Không, thiếp là người vợ lý tưởng nhất trong tất cả những người vợ lý tưởng. Nàng đã cho ta một hạnh phúc vô biên mà ta tưởng chừng không bao giờ có được – hạnh phúc đây không phải sự nhung lụa mà là tình yêu nàng cho ta, là sự hòa nhập của ta và nàng, là sự thấu hiểu trọn vẹn của nàng đối với ta, là sự chiều chuộng, vỗ về, săn sóc của nàng v.v…

Nói chung những gì nàng có và đã cho ta, không thể có được ở những người đàn bà khác. Thế nhưng, tình yêu cho nàng v tình yêu quê hương, ta phải làm sao đây? Nàng hãy giúp ta nhé!.

Giáng Hương hiểu được ý chồng, nàng cuối đầu rưng rưng nước mắt:

  • Chng muốn về cõi trần thật ư? Chàng không nghĩ như thế là phụ lòng thiếp sao?

    Từ Thức với gương mặt thểu não:

  • Không, không bao giờ ta phụ nàng, ta chỉ muốn về thăm quê ít hôm rồi trở lại cùng nàng mà thôi.
  • Nhưng trần tin cách biệt, đã ra đi, khó bề trở lại!
  • Ta không tin điều ấy, ta nhất định trở lại cùng nàng.

Hai người ôm nhau thổn thức!

Giáng Hương đã đem việc Từ Thức muốn về trần tâu với tiên mẫu. Người không nỡ từ chối tấm lòng yêu quê hương của chàng, dẫu biết rằng ra đi là vĩnh biệt, người đã chấp nhận và ra lệnh làm một xe Cẩm Vân để chàng cưỡi về trần.

Giờ biệt ly thật thê lương, bầu trời mây u ám, cả hai người đều khóc sướt mướt. Tiên đình như một màu tang. Giáng Hương cứ giữ chặt Từ Thức và chàng cũng không thể ra đi được! Dùng dằn thật lu, Từ Thức mới ngồi được vào xe, chiếc xe vút bay vào cõi không mờ mịt!

*       *

*

Về đến trần gian, mọi vật đều thay đổi. Túp lều tranh năm xưa không còn, chú tiểu đồng biến mất. Huyện đường, phố xá đã xê dịch. Ngôi chùa ngày xưa Giáng Hương làm gãy hoa mẫu đơn giờ đây cũng xơ xác, thay đổi các sư trụ trì. Cái duy nhất vẫn còn là sự nghèo khổ của dân lành, sự ức hiếp của cường hào ác bá.

Chàng đi đi tìm lại người thân, tình cờ gặp được một người hành khất, râu tócc bạc phơ kể rằng:

  • Nghe nói ông cụ ba đời nhà tôi cũng có tên như ông, đi vào hang núi mất tích đã hơn một trăm năm rồi!

Từ Thức nghe đến đây thở di:

  • Một năm cõi tiên, một trăm năm trần thế. Ơi! Con tạo trớ trêu!

Chàng nhìn lên trời, mây đen che phủ, - Giáng Hương, nàng ở đâu? Chàng rưng rưng nước mắt, mở lá thư của Giáng Hương viết bằng lụa hồng gởi lúc chia tay ra đọc:

“ Đâu còn duyên xưa,

                                     Trần tiên cách biệt!

                                       Mãi cách xa nhau ta không bao giờ được gặp, lang quân!”

Bây giờ Từ Thức mới biết rằng đã về trần, không bao giờ trở lại được. Giáng Hương tuy biết, nhưng trước sự cương quyết của chồng, nàng đành âm thầm chịu khổ, không dám ngăn cản. Điều này cho thấy sự hy sinh và sức chịu đựng vô biên của nàng, chỉ vì quá thương chồng.

*       *

*

Rồi một ngày kia, mưa phùn gió bấc. Cái lạnh cắt da đã làm cho những người càng khốn càng thêm rét mướt. Cái xác xơ của cảnh vật đã làm cho Từ Thức tan nát cõi lòng! Vợ hiền đã xa tầm tay, lương dân vẫn mãi mãi cuộc đời tăm tối. Làm sao đây? Tất cả đã thành dĩ vãng!...

Một thân gầy cô độc, tay chống gậy, đầu đội chiếc nón lá rách, từng bước dưới làn mưa bụi. Thỉnh thoảng, những cơn gió giật làm tung chiếc áo lông cừu cũ kỹ của chàng. Con đường đất đỏ, ngoằn ngoèo, trơn trợt dẫn chàng vào trong núi Hoành Sơn. Thế là từ đó, Từ Thức đã vĩnh biệt dân làng!

*       *

*

Từ Thức tình cờ lạc đến “ Thiên Thai”, nơi chỉ có gió mát, trăng thanh, chỉ cõi tình thương, sự khoan dung, không cĩ hận thù. Nơi đã làm cho chàng tạm quên đi những âu lo, giành giựt của một con người. Nơi đã đem đến cho chàng một hạnh phúc tưởng không thể nào có được. Cái giá trị cao quý ấy dù chỉ được sống một năm ở “Thin Thai”, còn hơn sống một trăm năm ở cõi trần.

“Vườn Thiên Thai” tuy không phải cõi tiên như Từ Thức đã đến, nhưng nơi đây là một thế giới riêng biệt, không có tiếng động cơ, không có khói xe mù trời, chỉ có ánh đèn lung linh dưới bóng cây, trên mặt nước, chỉ có gió mát, tiếng nước chảy: nơi rì ro, nơi o o tiếng thác, chỉ có bông hoa, bờ suối. Tất cả những điều ấy có thể xoa dịu phần no nỗi nhọc nhằn, lo âu của quý khách suốt một ngày giam mình trong máy lạnh. Dù một giờ ở “Vườn Thiên Thai”, quý khách sẽ có cảm tưởng như quên hẳn đi những căng thẳng sau một ngày vật lộn ở thương trường và bù đầu với công việc.

Những đôi vợ chồng tổ chức tiệc cưới tại Vườn Thiên Thai, tuy không phải chốn tin cảnh như Giáng Hương và Từ Thức, nhưng là một khu vườn thơ mộng ở giữa thành phố không nơi nào có, khác nào chốn Thiên Thai cõi trần!

“ Vườn Thiên Thai, Thiên Thai trần thế

        Giữa phố phường một cái Thiên Thai

        Cho quên hết cuộc đời du bể

   Đến Thiên Thai quên cả lối về ”

Từ Thức không thể trở lại chốn Thiên Thai, nhưng quý khch có thể đến với Vườn Thiên Thai bất cứ lúcc nào, tùy thích!